Thuở xưa, trong vô lượng kiếp về trước, có một cô gái tên Quang Mục – người con hiếu thảo của một gia đình ở Nam Thiên Trúc.
Mẹ cô, do mê mờ mà tạo nhiều nghiệp ác, sau khi mất đã rơi vào cảnh địa ngục.
Thương mẹ vô cùng, Quang Mục ngày đêm cầu nguyện chư Phật, phát tâm lớn rằng:
“Nguyện đời đời kiếp kiếp con vì chúng sinh mà cứu độ, khiến tất cả thoát khỏi khổ đau.”
Lời nguyện ấy cảm động mười phương chư Phật, ánh sáng từ bi bao trùm,
và từ đó, cô hóa thân thành Địa Tạng Bồ Tát – vị Bồ Tát của lòng đại nguyện,
người mang lời thệ sâu nặng:
“Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật; chúng sinh độ tận, phương chứng Bồ đề.”
Trong một lần thuyết pháp tại cung trời Đao Lợi,
Đức Địa Tạng vì thương xót chúng sinh trong thời mạt pháp,
đã truyền dạy “Thập Luân Địa Tạng Đà La Ni” –
bài thần chú mang mười năng lực đại bi,
giúp người trì tụng có thể chuyển hóa nghiệp chướng,
tịnh hóa tâm ý, và hóa giải oán nghiệp vô hình.
Ngài dạy rằng:
“Ai chí tâm trì tụng bài chú này, dù chỉ một biến,
cũng được vô lượng chư Phật gia hộ,
tội chướng tiêu trừ, phước huệ tăng trưởng,
và khi lâm chung, tâm không sợ hãi, được sanh về cõi an lành.”
Kể từ đó, bài Thập Luân Địa Tạng Đà La Ni trở thành
một pháp âm nhiệm mầu được chư tăng trì tụng khắp nơi –
để cầu bình an, siêu độ, và hộ trì cho muôn loài trong thời kỳ nhiễu nhương.
Nội dung bài chú ( Phạn ngữ )
namō ratna trayāya
nama ārya kṣitigarbha bodhisattvāya mahāsattvāya
tadyathā
kṣam-bhū, kṣam-bhū, kṣud kṣam-bhū,
ākāśa kṣam-bhū, vāraka kṣam-bhū, ambu kṣam-bhū, vaira kṣam-bhū,
vajra kṣam-bhū, aloka kṣam-bhū, dama kṣam-bhū, satyama kṣam-bhū,
satya nirhara kṣam-bhū, vyavaloka kṣapa kṣam-bhū,
upaśama kṣam-bhū, nayana kṣam-bhū, prajña sambhū tirana kṣam-bhū,
kṣana kṣam-bhū, visvariya kṣam-bhū, śasta lava kṣam-bhū.
vyāḍa su jya ma hire dame same, cakre se cakra ma hire,
kṣine bhire hṛd graha saṁvara vrate, śiri prabhē pracara vartane,
ratna pale cala cala śiri mile ekārtha, takki thakkura dare dare,
mile badhe tade akule kumile mire angocitta avi alagire praghṛ,
kuṭṭa samane jange jange jangule, huru huru huru, kuru-stu.
mile mi mi lidhe, mile tare, bha dada hara hire hire, huru huru ru.
hava rāja viṣodhane svāhā,
kali yuga viṣodhane svāhā,
kaluṣa mana viṣodhane svāhā,
kaluṣa mahābhūta viṣodhane svāhā,
kaluṣa rasa viṣodhane svāhā,
kaluṣa oja viṣodhane svāhā.
sarva tathāgata adhiṣṭhite svāhā,
sarva bodhisattva adhiṣṭhita anumodite svāhā.
Nội dung bài chú ( Việt ngữ )
Con đảnh lễ Đức Địa Tạng Bồ Tát – bậc Đại Sĩ có công đức sâu dày vô lượng.
Xin lắng nghe lời thần chú nhiệm mầu này:
Nguyện năng lượng đại địa vững vàng, thanh tịnh như hư không,
ngăn chặn mọi điều ác, tẩy rửa mọi cấu uế,
làm hiển lộ trí tuệ, ánh sáng, chân thật và thanh lương.
Nguyện bánh xe kim cang xoay khắp pháp giới,
đem ánh sáng và sự thật đến mọi nơi,
khiến tất cả nghiệp chướng, phiền não, sợ hãi đều được tiêu tan.
Nguyện tất cả bánh xe đại nguyện của Đức Địa Tạng
xoay chuyển trong tâm con,
khiến tâm được thanh tịnh, trí được sáng, lòng được an,
mở ra mười phương ánh sáng.
Hỡi năng lượng từ bi, hãy khởi động, hãy chuyển hóa,
như mười bánh xe của Đức Địa Tạng đang quay giữa trời,
dẹp trừ nghiệp chướng, hóa giải sân si, khai mở tuệ giác.
Hãy thanh tịnh vua Hư Không, thanh tịnh thời Mạt Pháp,
thanh tịnh tâm nhiễm ô, thanh tịnh đại địa, thanh tịnh vị và khí,
khiến thân tâm và thế giới đều trở nên trong sáng.
Nguyện được tất cả chư Phật gia trì,
tất cả Bồ Tát hoan hỷ chứng minh.
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát – Svāhā.
#buddhamantra #diatangbotat #nhạcthiềnphậtgiáo
Информация по комментариям в разработке